Hai Mươi Năm

Hình downloaded from the internet

Hôm nữa Tháng Tư, Tổng Thống Joe Biden chính thức cho hay sẽ rút về nước lực lượng Mỹ còn lại ở Afghanistan. Cuộc chiến này đã kéo dài 20 năm. Tổng Thống Biden khẳng định “Đã đến lúc chấm dứt cuộc chiến dài nhất lịch sử Mỹ”. Sau khi loan báo quyết định của mình, Tổng Thống Biden viếng thăm nghĩa trang quốc gia Arlington National, đặc biệt thăm khu vực có mộ phần của nhiều quân nhân Mỹ hy sinh trên chiến trường Iraq và Afghanistan.

Đã 20 năm rồi sao? Nhiều người giật mình tự hỏi trong đó có tôi. Đời sống ở đây bình yên quá khiến người ta gần như không nhớ đến có một chiến tranh đang diễn ra ngoài kia.  

Tôi vẫn còn nhớ buổi sáng của 9/11 20 năm về trước. Chắc chắn là ai cũng nhớ lúc đó mình đang làm gì khi hai tòa nhà của World Trade Center sụp đổ. Khi nước Mỹ quyết định bước vào cuộc chiến ở A Phủ Hãn nhiều người Việt mình đã lo rằng Mỹ sẽ bị sa lầy như Nga đã từng sa lầy ở đây hoặc như Mỹ đã từng dây dưa ở chiến tranh Việt Nam vừa rồi.

Trong những năm đầu của cuộc chiến, mỗi chủ nhật, chương trình ABC News vẫn dành những phút chót để đọc tên binh sĩ Mỹ vừa mới hy sinh. Họ trẻ lắm, rất nhiều người chỉ 19 hay 20 gì đó. Những khuôn mặt còn non nớt nhưng cuộc đời cắt ngắn. Đã nhiều lần tôi không dám nghe những bản tin nầy bởi nó quá đau lòng.  

Khi quyết định chấm dứt chiến tranh đưa ra, Hoa Kỳ còn khoảng 2,500 người lính phục vụ ở A Phú Hãn. Kế hoạch rút quân sẽ hoàn tất vào ngày 11 tháng Chín, đánh dấu 20 năm, từ cuộc tấn công của Al-Qaeda vào New York and Washington năm 2001.

Tổng số binh sĩ đã chết ở Iraq và A Phú Hãn khoảng 7,000 người. Lãnh tụ Al-Quaeda đã bị chính phủ Hoa kỳ truy tìm và cuối cùng, 10 năm sau, bị giết chết. Ai cũng nghĩ rằng đã tới lúc phải chấm dứt thôi. Hình như không ai phải bận tâm gì cả.

Tháng Tư, khi nước Mỹ kế hoạch rút quân trong sự thờ ơ đồng ý của đại đa số dân chúng ở đây thì một ngày của tháng Tư và nếu ngược về lại 1975, 20 năm chiến tranh ở Việt Nam có một sự chấm dứt gần như tương tự. Và cũng như ở năm 2001, chắc là ai cũng còn nhớ mình đang ở đâu,làm gì vào những ngày cuối cùng của tháng Tư, 1975.

Không ai nghĩ rằng chiến tranh A Phú Hãn kéo dài đến 20 năm. Lúc đó, người ta cứ nghĩ đánh nhanh, đánh mạnh rồi thì chấm dứt. Sự chấm dứt đó đã dùng dằng mãi cho đến nay. Thì cũng như chiến tranh Việt Nam, nó không kết thúc ở năm 1975 mà còn kéo dài thêm 20 năm nữa trên một hình thức khác.

Hôm nay, một buổi sáng còn rất sớm khi tháng Chín chưa về, chúng ta biết rằng cuộc chiến đó đã chấm dứt. Tổng thống A Phú Hãn, Ashraf Ghani, đã bỏ trốn, đất nước họ đã rơi vào Taliban. Tôi bàng hoàng và đã hình dung ra được những gì sẽ xảy ra cho người dân A Phủ Hãn. Lịch sử lại một lần lập lại chỉ sau hai mươi năm.

Cho dù sự kết thúc có diễn ra trong trật tự như nước Mỹ đã kế hoạch, chiến tranh Á Phu Hãn không thật sự chấm dứt ở tháng Chín năm nầy bởi những người lính khi trở về sẽ vẫn nhớ tới vết thương của họ, trong thể xác hay tâm hồn, chiến trường đã để lại. Và nhất là, họ sẽ nhớ vô cùng đồng đội mình đã nằm xuống, những người lính tuổi còn rất trẻ, đã cùng với họ trên tuyến đầu lửa đạn. Những người lính đã chẳng được trở về với gia đình và tìm kiếm tạo dựng lại cuộc đời mình. Chẳng phải hai mươi năm vừa qua, có nhiều cựu chiến binh đã phải sống trong ám ảnh đó sao.

Hai mươi năm chiến tranh Á Phu Hãn làm tôi nghĩ tới hai mươi năm chiến tranh ở Việt Nam. Nhìn lại mới thấy được từng cá nhân lớn lên đều bị chiến tranh quay cuồng và thay đổi.  

Hai mươi năm đó chúng ta đã ở đâu, làm gì và đi về đầu?

Năm ba tôi và hai bác của tôi cũng như những người trai trẻ khác trong làng phải bỏ quê đi lánh nạn, cũng tưởng chỉ đi vài năm rồi về, nào ngờ, nó kéo dài đến mấy mười năm sau mới có được hy vọng. Cái năm ba tôi được về lại thăm quê thì ông bà nội tôi đã không còn nữa. Khi ba tôi thắp nhang lên vái ông bà trong lòng ông chắc hẳn phải đau buồn lắm.

Khi cậu tôi và những người cùng trong thời gian đó đi tập kết thì cũng tưởng chỉ đi hai năm rồi về, có biết đâu cái hai năm đó trở thành hai mươi năm. Những gia đình thiếu bóng người cha trong bữa chiều ăn cơm hay những người mẹ phải một mình bương chải, cứ như vậy, ngày tháng trôi qua cho tới hai mươi năm. Rồi lịch sử lại một lần nữa lặp lại. Nhiều gia đình khác tiếp tục cái nghiệt ngã của sinh ly tử biệt là đau buồn cho đến gần 20 năm tiếp.

thương ta chớ học theo người cũ
hóa đá làm chi uổng một đời   (Nguyễn Thanh Châu)

Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?  (Tô Thùy Yên)

bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì   (Du Tử Lê)

Những người còn lại sau chiến tranh dù A Phú Hãn hay Việt Nam vẫn cứ là ám ảnh của những gì bi thương nhất. Hai mươi năm. Con số như một định mệnh cho rất nhiều thế hệ. Khi bước vào tuổi 60, tôi nhận ra rằng, hai mươi năm đầu tiên của cuộc đời là cái dấu ấn làm nên con người đó. Tôi quay quắt nhớ về thời lớn lên, cắp sách đi học, mơ ước của tuổi trẻ. Những năm sau này, khi gặp lại các bạn bè xưa, thì tình cảm của thời lớn lên vẫn cứ sâu đậm thân thương lắm. Tôi tin rằng, hai mươi năm đầu tiên của cuộc đời là thời gian rất quan trọng. Chỉ tiếc rằng có những người lính đã chẳng phải sống quá tuổi đôi mươi hay có những người lính đã không sống đến tuổi sáu mươi để nhìn lại đời mình. Chúng ta sẽ không thể nào quên họ được.

Tuyết Vân

Posted in Tuyet Van | Leave a comment

Hiền Mẫu

Picture downloaded from the Internet

Mẹ như vầng trăng sáng
Soi dịu bóng đời con
Mẹ bảo bọc chăm nom
Nuôi con ngày khôn lớn
Mẹ như tia nắng sớm
Cho con có ngày mai
Mang nặng ở hai vai
Mẹ đường dài lo gánh
Mẹ chính là đôi cánh
Cho con được bay xa
Rồi khi thấy nhớ nhà
Có mẹ đây chờ đợi
Mẹ tấm lòng dịu vợi
Thương con khó với đời
Tóc mẹ giờ sương muối
Vẫn lo vẹn mười mươi
Mẹ như lá vàng phai
Đông về nghe tê tái
Hằng đêm con van vái
Cầu xin gió đừng lay
Rồi buổi sáng hôm nay
Mẹ về nơi chín suối
Đường ơi, đừng đi tới
Còn những phút này thôi
Mẹ đã nằm nghĩ ngơi
Như những người tới trước
Mẹ đã tròn duyên phước
Giờ con phải chia xa
Nhưng con mới nghĩ ra
Trái tim người hiền mẫu
Trái tim màu bao la
Mẹ vẫn ở trong ta
Cho dù bao lâu nữa

Tuyết Vân

Posted in Tuyet Van | Tagged , , | Leave a comment

Chỉ Một Mẹ Thôi

Corona Del Mar Beach

Dịch từ bài thơ Only One Mother của George Cooper

Có hàng trăm vì sao lấp lánh  
Có hàng trăm võ sò nằm phơi
Có hàng trăm cánh chim đang hót
Có hàng trăm giọt sương vừa rơi
Có hàng trăm con ong hút mật
Có hàng trăm cánh bướm lượn bay
Có hàng trăm đóa hoa khoe sắc
Có hàng trăm cung bậc chơi vơi
Có hàng trăm và hàng trăm nữa…
Nhưng thế giới này, Chỉ Một Mẹ Thôi.

Tuyết Vân

Posted in Tuyet Van | Tagged | Leave a comment

Love Story

Chuyển dịch từ LA Times, Hailey Branson-Potts, 04/28/21

Louis and Nellie (Family Foto)

Họ gặp và yêu nhau sau đệ nhị thế chiến và sau khi trại tập trung của người Nhật được giải tán, ở cái tuổi 98, Louis Moore xuất bản tập hồi ký vinh danh cho vợ ông, bà Nellie Hatsumi Maeda.

Câu chuyện của họ bắt đầu từ mấy mươi năm về trước khi Louise Moore không ngừng chăm chú nhìn cô gái đứng hàng thứ ba trong đoàn vũ nữ ở câu lạc bộ China Doll, thành phố New York.

Đó là mùa xuân 1946, chiến tranh thế giới thứ hai vừa mới chấm dứt. Louis, 23 tuổi, vừa mới được xuất ngũ ở quân đoàn Không Quân sau khi đóng quân ở châu Âu về. Anh cùng cha mẹ và cô em gái tới câu lạc bộ để thưởng thức một đêm vui chơi.

Và anh đã thấy Nellie ở đó. Cô gái có đôi mắt thật dễ thương. Anh đã trở lại câu lạc bộ hằng đêm với hy vọng sẽ được cô chú ý.

Vài tuần sau đó, anh lại tình cờ thấy cô ngồi bên trong khung cửa sổ của một quán cà phê. Cô đã mỉm cười khi anh tới xin phép được ngồi cùng bàn. Họ đã cùng nhau dạo bộ ở công viên và ngồi nói chuyện đến hằng giờ.

Hai người đã làm đám cưới 10 ngày sau đó. Cái đám cưới gấp rút nhưng cuộc hôn nhân kéo dài 74 năm. Cha mẹ anh, vì không thích người Nhật, đã từ nói chuyện với anh trong 7 năm đầu.

Louis bây giờ đã 98 tuổi. Ông muốn chia xẻ câu chuyện tình và cuộc đời của vợ chồng ông cho nhiều người biết dù bây giờ nạn phân biệt người châu Á đang lên cao giữa cái lo sợ về đại dịch.

Nếu có cái gì mà thế giới này cần, đối với ông, thì đó là tình yêu.

Louis đang sống ở cộng đồng hưu trí ở Lancaster, vừa mới xuất bản 78 trang hồi ký về cuộc đời của vợ chồng ông, Louis Moore và Nellie Hatsumi Maeda. Ông lấy tựa đề của cuốn sách là Tình Yêu Vĩnh Cửu.

Louis, với thân hình thanh mảnh, giọng nói mạnh mẽ, va óc khôi hài tinh tế vừa mới làm lễ chào cờ với quân đoàn (American Legion) 311 ở Lancaster. Ông đã ký sách ở đây và hy vọng sẽ “dạy” cho bọn đàn ông biết làm thế nào để làm một ông chồng tốt.

Đó cũng là ngày họp mặt bên trong đầu tiên của quân đoàn 311 kể từ khi phải đóng cửa vì đại dịch. Phòng họp đông đúc người tới dự.

Cựu chiến binh của Đệ Nhị Thế Chiến đã chết vì tuổi già nhiều lắm, bà Bonnie Navarro, người tổ chức cho buổi họp này đã nói như vậy. Những câu chuyện như thế này chúng ta chưa nghe qua, và nếu không được kể lại, thì không bao giờ có lại được.

Louis ước sao được có Nellie bên cạnh khi ông ký sách tặng.

Tôi nói cho các ông đang đứng ở đây hay: Hãy yêu quý vợ mình, bởi vì đó là người sẽ luôn chung lưng sát cánh bên mình, khổ hay sướng, người sẽ khóc khi mình đau, và thương mình cho đến ngày cuối cùng của họ. Như Nellie, vợ của tôi.

Nellie là con gái của một cặp vợ chồng di dân người Nhật. Cô được sinh ra ở Fresno năm 1922 và lớn lên ở Visalia nơi cha mẹ cô sinh sống bằng nghề nông.

Trong thời gian chiến tranh, chính phủ Hoa Kỳ đã bắt 120 ngàn người Nhật mà 2/3 số người này là công dân Hoa Kỳ phải dồn vào trại tập trung để sống. Gia đình của Nellie bị đưa qua Arizona. Nellie ít thường kể về thời gian này, có lẽ, nó như một vết thương trong lòng cô.

Khi được thả tự do, gia đình cô đã mất đi nông trại. Cha mẹ cô khuyên Nellie dọn qua New York kiếm sống vì phía bên miền Tây người Mỹ chẳng ưa gì người Nhật cả. Lúc đầu, Nellie làm người bảo mẫu, sau đó, cô được tham gia vào vũ đoàn China Doll.

Louis được sinh ra ở San Francisco vào tháng Mười, năm 1922. Ông là thế hệ thứ ba ở Mỹ. Họ của ông nội ông bị đổi là Moore bởi một nhân viên trong sở di dân đã không phát âm được cái tên họ Trung Hoa đó.  

Louis gia nhập vào binh đoàn Không Quân. Lúc đó, có khoảng 13,000 thanh niên người Mỹ gốc Hoa đã gia nhập vào binh ngũ. Louis hãnh diện nói, những người bạn của tôi và tôi đã vào binh ngũ để đi cứu thế giới.

Ông được đưa qua châu Âu trên chiếc tàu Mary Queen. Ông kể, ngày nào cũng ăn món đồ hộp Spam hết. Ông đóng quân ở Pháp, gần biên giới nước Đức. Hồi đó, làm một người lính Mỹ có gốc Trung Hoa cũng gặp nhiều phiền lụy lắm. Đi đâu, tôi cũng chỉ là một người châu Á, nhiều lúc tôi sợ những người lính da trắng kia sẽ đem tôi đi bắn. Sợ chết được.

Louis ít khi nói về chiến tranh.

Một trong những câu chuyện ông rất thích kể lại là chuyện chia khẩu phần. Lúc đó, gia đình ông đang ở Brooklyn. Ông muốn mua kẹo chocolate để tặng mẹ nên ông ra tiệm bán bánh kẹo và đứng xếp hàng chờ. Thời đó, hàng hoá tiêu thụ thiếu thốn, phải mua theo số lượng có chừng mực. Người ta xếp từng hàng dài. Một người đàn ông kéo ông vào bên trong tiệm, cho ông đứng hàng đầu, và nói, không nên để một quân nhân phải xếp hàng mua chocolate chứ các bạn. Mọi người đồng vỗ tay hoan nghênh chào ông. Họ đối với tôi như thượng khách vậy, ông còn nhớ.

Tháng Tư, 1946, Louis giải ngũ nhưng cuộc đời ông chỉ bắt đầu khi ông gặp vợ ông ở quán cà phê vào ngày đầu tháng Sáu. Đến ngày thứ hai tôi mới hôn Nellie. Tôi phải đợi lâu như thế.

Cha mẹ của Louis vì nghĩ rằng Nhật Bản là kẻ thù của Mỹ nên đã không chấp thuận ông cưới Nellie. Họ đuổi ông ra khỏi nhà. Ông cùng Nellie về Cali nơi có gia đình của Nellie sống. Ông cũng lo sợ cha mẹ Nellie cũng không chấp nhận mình.

Khi tới nhà thăm, thình lình một người đàn bà nhỏ nhắn nhưng bước đi mạnh bạo như một đại tướng bước vào nhìn ông chầm chập. Một hồi, trên môi bà nở nụ cười. Louis biết mẹ vợ mình đã đồng ý.

Mấy năm đầu, hai vợ chồng ông nghèo khổ nhưng rất hạnh phúc. Họ làm việc chăm chỉ ở nhà hàng và hãng xưởng. Vào cuối năm 1950, họ để dành đủ tiền để chuẩn bị mua một căn nhà nhỏ ở vùng San Fernando Valley là nơi đang có những xây dựng mới. Lúc đó, người ta không muốn bán nhà cho người châu Á. Một người khách hàng da trắng thường tới ăn ở nhà hàng Nellie làm, đã bán căn nhà của họ cho vợ chồng ông. Những người hàng xóm đã ký giấy yêu cầu Louis và Nellie phải dọn đi nhưng họ quyết tâm ở lại.

Sau này họ mở một nhà hàng Tàu và ở gần với cha mẹ Nellie. Bây giờ, Nellie đã là trưởng ban điều hành dân sự cho một hãng kỹ sư và Louis là một chuyên gia tư vấn về quản trị.

Họ thường nói là họ không có nếp nhăn trên mặt vì họ không bao giờ cãi nhau. Khi ông ký tên của hai người, ông luôn ký tên của Nellie trước.

Nellie dọn vào ở trong viện dưỡng lão sáu năm trước vì bệnh mất trí nhớ trầm trọng hơn. Ông đi thăm vợ hàng ngày cho đến khi đại dịch bùng nổ. Mỗi tháng ông tới thăm vợ, ngồi bên ngoài cửa sổ nhìn vào. Ông gọi bà hàng ngày và nói là ông nhớ bà vô cùng.

Ông bắt đầu tập hồi ký này vào mùa hè năm ngoái. Bàn tay ông đã yếu nhiều nên một người bạn đã tới giúp viết xuống giùm ông.  

Lúc đầu tôi cũng ngại, người bạn nói, nhưng tôi biết ông ở chỉ một mình, chúng tôi đều mang khẩu trang và ngồi cách xa khi gặp nhau.

Louis nói, điều ông mong muốn nhất là Nellie được về nhà. Tôi muốn viết xong cuốn sách rồi chúng tôi ngồi bên nhau, gác chân trên bàn, cầm tay và đọc cho nhau nghe. Nhưng rồi điều đó đã không có được.

Louis and Nellie

Nellie đã ra đi vào tháng Mười ở tuổi 98.

Ông chạy vào viện dưỡng lão để nhìn Nellie lần cuối. Khi cuối xuống, ông thấy đôi mắt của Nellie có nước mắt. Ông la lên nói với y tá là bà vẫn còn sống. Nhưng đó là những giọt nước mắt của ông đã lăn trên đôi má của bà.

Tôi phải viết đoạn cuối sau khi bà đã ra đi. Tôi phải viết lời cáo phó mà thật là tôi không muốn chút nào.

Louis treo cái mũ lên. Trên mũ có dòng chữ Cựu Quân Nhân Đệ Nhị Thế Chiến.

Xin lỗi các vị. Ông chặm nước mắt, giọng nói có pha lẫn nghẹn ngào. Tôi yêu bà ấy và bà cũng rất yêu tôi.

Bây giờ ông sẽ đọc cuốn sách này một mình vào mỗi đêm.

Vợ ông đã được hỏa táng. Và ông cũng sẽ vậy. Ông muốn rằng tro của họ sẽ trộn vào nhau, và như vậy, họ luôn luôn ở bên nhau.

Posted in Tuyet Van | Tagged , | Leave a comment