Hiền Mẫu

Picture downloaded from the Internet

Mẹ như vầng trăng sáng
Soi dịu bóng đời con
Mẹ bảo bọc chăm nom
Nuôi con ngày khôn lớn
Mẹ như tia nắng sớm
Cho con có ngày mai
Mang nặng ở hai vai
Mẹ đường dài lo gánh
Mẹ chính là đôi cánh
Cho con được bay xa
Rồi khi thấy nhớ nhà
Có mẹ đây chờ đợi
Mẹ tấm lòng dịu vợi
Thương con khó với đời
Tóc mẹ giờ sương muối
Vẫn lo vẹn mười mươi
Mẹ như lá vàng phai
Đông về nghe tê tái
Hằng đêm con van vái
Cầu xin gió đừng lay
Rồi buổi sáng hôm nay
Mẹ về nơi chín suối
Đường ơi, đừng đi tới
Còn những phút này thôi
Mẹ đã nằm nghĩ ngơi
Như những người tới trước
Mẹ đã tròn duyên phước
Giờ con phải chia xa
Nhưng con mới nghĩ ra
Trái tim người hiền mẫu
Trái tim màu bao la
Mẹ vẫn ở trong ta
Cho dù bao lâu nữa

Tuyết Vân

Posted in Tuyet Van | Tagged , , | Leave a comment

Chỉ Một Mẹ Thôi

Corona Del Mar Beach

Dịch từ bài thơ Only One Mother của George Cooper

Có hàng trăm vì sao lấp lánh  
Có hàng trăm võ sò nằm phơi
Có hàng trăm cánh chim đang hót
Có hàng trăm giọt sương vừa rơi
Có hàng trăm con ong hút mật
Có hàng trăm cánh bướm lượn bay
Có hàng trăm đóa hoa khoe sắc
Có hàng trăm cung bậc chơi vơi
Có hàng trăm và hàng trăm nữa…
Nhưng thế giới này, Chỉ Một Mẹ Thôi.

Tuyết Vân

Posted in Tuyet Van | Tagged | Leave a comment

Love Story

Chuyển dịch từ LA Times, Hailey Branson-Potts, 04/28/21

Louis and Nellie (Family Foto)

Họ gặp và yêu nhau sau đệ nhị thế chiến và sau khi trại tập trung của người Nhật được giải tán, ở cái tuổi 98, Louis Moore xuất bản tập hồi ký vinh danh cho vợ ông, bà Nellie Hatsumi Maeda.

Câu chuyện của họ bắt đầu từ mấy mươi năm về trước khi Louise Moore không ngừng chăm chú nhìn cô gái đứng hàng thứ ba trong đoàn vũ nữ ở câu lạc bộ China Doll, thành phố New York.

Đó là mùa xuân 1946, chiến tranh thế giới thứ hai vừa mới chấm dứt. Louis, 23 tuổi, vừa mới được xuất ngũ ở quân đoàn Không Quân sau khi đóng quân ở châu Âu về. Anh cùng cha mẹ và cô em gái tới câu lạc bộ để thưởng thức một đêm vui chơi.

Và anh đã thấy Nellie ở đó. Cô gái có đôi mắt thật dễ thương. Anh đã trở lại câu lạc bộ hằng đêm với hy vọng sẽ được cô chú ý.

Vài tuần sau đó, anh lại tình cờ thấy cô ngồi bên trong khung cửa sổ của một quán cà phê. Cô đã mỉm cười khi anh tới xin phép được ngồi cùng bàn. Họ đã cùng nhau dạo bộ ở công viên và ngồi nói chuyện đến hằng giờ.

Hai người đã làm đám cưới 10 ngày sau đó. Cái đám cưới gấp rút nhưng cuộc hôn nhân kéo dài 74 năm. Cha mẹ anh, vì không thích người Nhật, đã từ nói chuyện với anh trong 7 năm đầu.

Louis bây giờ đã 98 tuổi. Ông muốn chia xẻ câu chuyện tình và cuộc đời của vợ chồng ông cho nhiều người biết dù bây giờ nạn phân biệt người châu Á đang lên cao giữa cái lo sợ về đại dịch.

Nếu có cái gì mà thế giới này cần, đối với ông, thì đó là tình yêu.

Louis đang sống ở cộng đồng hưu trí ở Lancaster, vừa mới xuất bản 78 trang hồi ký về cuộc đời của vợ chồng ông, Louis Moore và Nellie Hatsumi Maeda. Ông lấy tựa đề của cuốn sách là Tình Yêu Vĩnh Cửu.

Louis, với thân hình thanh mảnh, giọng nói mạnh mẽ, va óc khôi hài tinh tế vừa mới làm lễ chào cờ với quân đoàn (American Legion) 311 ở Lancaster. Ông đã ký sách ở đây và hy vọng sẽ “dạy” cho bọn đàn ông biết làm thế nào để làm một ông chồng tốt.

Đó cũng là ngày họp mặt bên trong đầu tiên của quân đoàn 311 kể từ khi phải đóng cửa vì đại dịch. Phòng họp đông đúc người tới dự.

Cựu chiến binh của Đệ Nhị Thế Chiến đã chết vì tuổi già nhiều lắm, bà Bonnie Navarro, người tổ chức cho buổi họp này đã nói như vậy. Những câu chuyện như thế này chúng ta chưa nghe qua, và nếu không được kể lại, thì không bao giờ có lại được.

Louis ước sao được có Nellie bên cạnh khi ông ký sách tặng.

Tôi nói cho các ông đang đứng ở đây hay: Hãy yêu quý vợ mình, bởi vì đó là người sẽ luôn chung lưng sát cánh bên mình, khổ hay sướng, người sẽ khóc khi mình đau, và thương mình cho đến ngày cuối cùng của họ. Như Nellie, vợ của tôi.

Nellie là con gái của một cặp vợ chồng di dân người Nhật. Cô được sinh ra ở Fresno năm 1922 và lớn lên ở Visalia nơi cha mẹ cô sinh sống bằng nghề nông.

Trong thời gian chiến tranh, chính phủ Hoa Kỳ đã bắt 120 ngàn người Nhật mà 2/3 số người này là công dân Hoa Kỳ phải dồn vào trại tập trung để sống. Gia đình của Nellie bị đưa qua Arizona. Nellie ít thường kể về thời gian này, có lẽ, nó như một vết thương trong lòng cô.

Khi được thả tự do, gia đình cô đã mất đi nông trại. Cha mẹ cô khuyên Nellie dọn qua New York kiếm sống vì phía bên miền Tây người Mỹ chẳng ưa gì người Nhật cả. Lúc đầu, Nellie làm người bảo mẫu, sau đó, cô được tham gia vào vũ đoàn China Doll.

Louis được sinh ra ở San Francisco vào tháng Mười, năm 1922. Ông là thế hệ thứ ba ở Mỹ. Họ của ông nội ông bị đổi là Moore bởi một nhân viên trong sở di dân đã không phát âm được cái tên họ Trung Hoa đó.  

Louis gia nhập vào binh đoàn Không Quân. Lúc đó, có khoảng 13,000 thanh niên người Mỹ gốc Hoa đã gia nhập vào binh ngũ. Louis hãnh diện nói, những người bạn của tôi và tôi đã vào binh ngũ để đi cứu thế giới.

Ông được đưa qua châu Âu trên chiếc tàu Mary Queen. Ông kể, ngày nào cũng ăn món đồ hộp Spam hết. Ông đóng quân ở Pháp, gần biên giới nước Đức. Hồi đó, làm một người lính Mỹ có gốc Trung Hoa cũng gặp nhiều phiền lụy lắm. Đi đâu, tôi cũng chỉ là một người châu Á, nhiều lúc tôi sợ những người lính da trắng kia sẽ đem tôi đi bắn. Sợ chết được.

Louis ít khi nói về chiến tranh.

Một trong những câu chuyện ông rất thích kể lại là chuyện chia khẩu phần. Lúc đó, gia đình ông đang ở Brooklyn. Ông muốn mua kẹo chocolate để tặng mẹ nên ông ra tiệm bán bánh kẹo và đứng xếp hàng chờ. Thời đó, hàng hoá tiêu thụ thiếu thốn, phải mua theo số lượng có chừng mực. Người ta xếp từng hàng dài. Một người đàn ông kéo ông vào bên trong tiệm, cho ông đứng hàng đầu, và nói, không nên để một quân nhân phải xếp hàng mua chocolate chứ các bạn. Mọi người đồng vỗ tay hoan nghênh chào ông. Họ đối với tôi như thượng khách vậy, ông còn nhớ.

Tháng Tư, 1946, Louis giải ngũ nhưng cuộc đời ông chỉ bắt đầu khi ông gặp vợ ông ở quán cà phê vào ngày đầu tháng Sáu. Đến ngày thứ hai tôi mới hôn Nellie. Tôi phải đợi lâu như thế.

Cha mẹ của Louis vì nghĩ rằng Nhật Bản là kẻ thù của Mỹ nên đã không chấp thuận ông cưới Nellie. Họ đuổi ông ra khỏi nhà. Ông cùng Nellie về Cali nơi có gia đình của Nellie sống. Ông cũng lo sợ cha mẹ Nellie cũng không chấp nhận mình.

Khi tới nhà thăm, thình lình một người đàn bà nhỏ nhắn nhưng bước đi mạnh bạo như một đại tướng bước vào nhìn ông chầm chập. Một hồi, trên môi bà nở nụ cười. Louis biết mẹ vợ mình đã đồng ý.

Mấy năm đầu, hai vợ chồng ông nghèo khổ nhưng rất hạnh phúc. Họ làm việc chăm chỉ ở nhà hàng và hãng xưởng. Vào cuối năm 1950, họ để dành đủ tiền để chuẩn bị mua một căn nhà nhỏ ở vùng San Fernando Valley là nơi đang có những xây dựng mới. Lúc đó, người ta không muốn bán nhà cho người châu Á. Một người khách hàng da trắng thường tới ăn ở nhà hàng Nellie làm, đã bán căn nhà của họ cho vợ chồng ông. Những người hàng xóm đã ký giấy yêu cầu Louis và Nellie phải dọn đi nhưng họ quyết tâm ở lại.

Sau này họ mở một nhà hàng Tàu và ở gần với cha mẹ Nellie. Bây giờ, Nellie đã là trưởng ban điều hành dân sự cho một hãng kỹ sư và Louis là một chuyên gia tư vấn về quản trị.

Họ thường nói là họ không có nếp nhăn trên mặt vì họ không bao giờ cãi nhau. Khi ông ký tên của hai người, ông luôn ký tên của Nellie trước.

Nellie dọn vào ở trong viện dưỡng lão sáu năm trước vì bệnh mất trí nhớ trầm trọng hơn. Ông đi thăm vợ hàng ngày cho đến khi đại dịch bùng nổ. Mỗi tháng ông tới thăm vợ, ngồi bên ngoài cửa sổ nhìn vào. Ông gọi bà hàng ngày và nói là ông nhớ bà vô cùng.

Ông bắt đầu tập hồi ký này vào mùa hè năm ngoái. Bàn tay ông đã yếu nhiều nên một người bạn đã tới giúp viết xuống giùm ông.  

Lúc đầu tôi cũng ngại, người bạn nói, nhưng tôi biết ông ở chỉ một mình, chúng tôi đều mang khẩu trang và ngồi cách xa khi gặp nhau.

Louis nói, điều ông mong muốn nhất là Nellie được về nhà. Tôi muốn viết xong cuốn sách rồi chúng tôi ngồi bên nhau, gác chân trên bàn, cầm tay và đọc cho nhau nghe. Nhưng rồi điều đó đã không có được.

Louis and Nellie

Nellie đã ra đi vào tháng Mười ở tuổi 98.

Ông chạy vào viện dưỡng lão để nhìn Nellie lần cuối. Khi cuối xuống, ông thấy đôi mắt của Nellie có nước mắt. Ông la lên nói với y tá là bà vẫn còn sống. Nhưng đó là những giọt nước mắt của ông đã lăn trên đôi má của bà.

Tôi phải viết đoạn cuối sau khi bà đã ra đi. Tôi phải viết lời cáo phó mà thật là tôi không muốn chút nào.

Louis treo cái mũ lên. Trên mũ có dòng chữ Cựu Quân Nhân Đệ Nhị Thế Chiến.

Xin lỗi các vị. Ông chặm nước mắt, giọng nói có pha lẫn nghẹn ngào. Tôi yêu bà ấy và bà cũng rất yêu tôi.

Bây giờ ông sẽ đọc cuốn sách này một mình vào mỗi đêm.

Vợ ông đã được hỏa táng. Và ông cũng sẽ vậy. Ông muốn rằng tro của họ sẽ trộn vào nhau, và như vậy, họ luôn luôn ở bên nhau.

Posted in Tuyet Van | Tagged , | Leave a comment

Hát Chiều Qua Tuy Hòa của Nguyễn Đức Quang

Chiếu Qua Tuy Hòa/Youtube


Tôi bắt đầu nghe nhạc trên Youtube nhiều hơn, gần như là mỗi ngày, từ khi về hưu vào cuối năm ngoái. Youtube ra đời cách đây 16 năm vậy mà đến bây giờ tôi mới được cái quyền thưởng thức nó . Nhưng không sao, trễ còn hơn không, nói theo ngôn ngữ của một nhạc sĩ, mỗi ngày tôi chọn một bản nhạc, rồi hát theo với người ca sĩ của bản nhạc đó.

Một lần, tình cờ tôi thấy bản Chiều Qua Tuy Hòa của Nguyễn Đức Quang trên Youtube Playlist. Đây là một trong những bản du ca nổi tiếng của thời bấy giờ. Bản nhạc gắn liền tuổi trẻ và chiến tranh, giờ nghe vẫn còn thấy xót xa.

Tôi ngân nga hát theo Nguyễn Đức Quang. Chiều nay tôi đã đi qua Tuy Hòa… Giọng ông trầm buồn làm tôi muốn khóc. Âm điệu não nuộc. Không hiểu sao tôi cứ liên tưởng tới một người Chiêm Thành, một người Hời, đang bước đi trên con đường nắng cháy với một mớ hành trang nhỏ trên đầu. Ấn tượng đó, sáng nay, tôi nghiệm ra rằng, mình đã nhớ tới cuộc tản cư của người dân từ một làng quê gần nơi tôi ở cách đây gần 60 năm.

Năm đó, sau thời Đệ Nhất Cộng Hoà, chắc là những năm của 64-65, chiến tranh bắt đầu rải rác ở nhiều nơi mà căn bản là miền quê. Tôi còn nhớ một buổi sáng mùa hè, trên con đường quốc lộ 1, có rất nhiều đồng bào quê ở xã Nhơn Phong chạy tản cư về Đập Đá. Người ở Nhơn Phong, nói riêng là Cảnh Hàng, đều biết má tôi. Bà sinh ra và lớn lên ở đó. Người ta kêu nhau ghé vô nhà cô Bảy.

Nhiều gia đình đã ghé lại nhà tôi tạm trú. Họ đi bằng xe đạp, xe ngựa, hay chỉ chạy bộ với những gồng gánh có thể mang theo được. Nhiều người rất nghèo. Họ phải chạy bằng chân đất. Gương mặt ai cũng lộ về hoảng hốt, lo âu và ngay cả ngơ ngác. Đôi mắt của họ luôn hướng nhìn ra đường nơi vẫn tiếp tục có dòng người tản cư về. Họ túm lại hỏi thăm nhau về làng xóm của mình. Hình ảnh những người dân quê này giống như 2 câu trong bài hát.

Cầu xưa xơ xác sau cơn bão tố
(còn) người dân tan tác bên đường ngẩn ngơ

Có người ghé vào nghỉ ngơi vài tiếng, uống ly nước trà rồi đi tiếp. Đó là những người còn có bà con ở Bình Định hoặc Qui Nhơn. Có người ở lại nhà tôi vài tuần rồi mới bắt đầu một rẽ quanh khác. Nhờ có phía sân sau rộng rãi, nhiều người đã gửi đồ đạc lại đây. Nhiều người khóc sướt mướt phải bỏ lại nhà của ruộng đồng nhưng ai cũng mừng là đã có nhà quen ghé chân.

Năm đó, tôi còn nhỏ, chỉ nhìn nhiều người ra vô nhà tôi rộn riệp với một sự tò mò. Điều đặc biệt tôi chú ý là có nhiều gia đình chỉ có đàn bà. Tôi kêu rất nhiều cô. Cô Hai, cô Ba Tri Sự, cô Sáu, Cô Mười, cô Năm Chư. Nhiều lắm. Sau này, tôi mới biết là những cô này đều có chồng đi tập kết.

Rồi mỗi gia đình cũng bắt đầu ra ở riêng sau khi tìm được chỗ ổn định. Má tôi sắp xếp được cho ba gia đình có chỗ ở và sinh sống bán hàng bánh tại đây. Đó là cái năm 1965. Từ đó không gia đình nào trở lại Cảnh Hàng hết. Chiến tranh đã lấy mất đi thôn xóm của họ. Những bờ ruộng xanh đã xa lắm rồi. Nhiều người định cư hẳn ở Qui Nhơn, vài gia đình ở Bình Định, Đập Đá. Một số ít chắc là về lại ở những thôn làng gần bên,  nơi vẫn còn sinh sống được.

Rồi đến năm 1975, những người tôi gọi bằng cô như cô Hai, cô Năm Chư, cô Mười tới thăm má tôi với các dượng từ miền Bắc về. Nhiều gia đình tản cư năm đó cũng về lại Cảnh Hàng sống. Vậy rồi thôi, sau này gia đình tôi không có một tin tức gì của ai cả.

Chiến tranh đã giới thiệu vào cuộc đời tôi bằng một buổi sáng mùa hè như vậy. Mấy mươi năm qua, tôi không nhớ đến, hay nếu có, chỉ là một câu chuyện kể lại bình thường. Nhưng buổi sáng hôm nay, trong căn nhà yên lặng, nghe Chiều Qua Tuy Hòa tôi đã nhớ với tất cả sự xúc động. Nhớ tới những người dân quê năm đó, qua một đêm chiến tranh, cuộc đời đưa đẩy đi tới phương trời khác.

Ôi bước buồn theo với không gian buồn
Một đêm qua biết bao sầu thương

Năm má tôi 90 tuổi, bà và cậu tôi, hai chị em về thăm Cảnh Hàng. Người quen cùng thời đã mất nhiều chỉ còn lại một ít người trẻ mà bà vẫn còn biết. Vài năm sau, trí nhớ má tôi không còn sáng suốt. Cái mà bà nhớ nhiều là quá khứ và đặc biệt quá khứ của một thời rất xa xưa. Má tôi đã nhiều lần nhắc tên của họ.

Bây giờ tôi ngồi đây, ngân nga bài hát này mà nhớ rất nhiều những người của một thời xa xưa đó. Nhớ không gian và thời gian trên con quốc lộ 1.  

Đường đi đưa tới phía Nam nhưng lòng
triền miên ray rứt theo miền Trung

Làm sao mà không nhớ được khi nó nằm trong tâm khảm của mình.

Posted in Tuyet Van | Leave a comment