Đọc Trang Cáo Phó

Cũng trên mười năm nay tôi có thói quen mở tờ báo ra là đọc trang cáo phó trước hết. Đối với tôi đọc trang cáo phó cũng thú vị như đọc một câu truyện. Nói chữ thú vị thì cũng hơi quá đáng vì đây là sự mất mát người thân của một gia đình. Nhưng chữ thú vị tôi  dùng đây là một sự tôn vinh cho cuộc đời người đã khuất và gia đình của họ.

Tôi bắt đầu đọc từ lúc ở hãng ông chủ tôi có đặt mua báo LA Times để nhân viên đọc trong giờ giải lao. LA Times là tờ báo lớn. Trang cáo phó cũng lớn và in có nhiều màu sắc. Hôm đó khi ra phòng giải lao uống cà phê tôi chú ý đến trang cáo phó có đăng hình một anh thủy thủ Mỹ rất dễ thương, tuổi độ khoảng hai mươi. Nhìn hình thì biết đó là người của những thập niên về trước. Đọc đến thì biết là người mất đã trên chín mươi. Tấm hình đó là khi anh vừa mới vào hải quân. Trang cáo phó dài viết lai lịch cuộc đời thuỷ thủ của anh qua mấy cuộc chiến và cuộc đời dân sự của anh sau này. Đọc trang cáo phó anh thay vì thấy buồn thì lại thấy vui và ngưỡng mộ cho cuộc sống dài anh trải qua với nhiều kinh nghiệm thử thách.

Và bắt đầu từ đó tôi luôn đọc trang cáo phó trước khi đọc những bản tin ở trang đầu. Những người nổi tiếng trong xã hội thi trang cáo phó có nhiều chi tiết đã đành nhưng cũng có những người chỉ ngày hai buổi đi làm như chúng tôi đây cũng có những trang cáo phó đầy màu sắc linh động. Như hôm nọ đây trang báo nói về cuộc đời một cụ bà tuổi trên chín mươi. Bà di cư đến Mỹ sau đệ nhị thế chiến. Con trai bà là cựu quân nhân Việt Nam và cháu bà là cựu quân nhân trong cuộc chiến ở Trung Đông. Bà luôn tự hào con cháu bà đã đóng góp cho đất nước đã từng cưu mang gia đình bà.

Khi biết Người Việt On Line thì tôi vẫn giữ thói quen đọc trang Cáo Phó trước. Cũng nhờ vậy tôi thấy được cáo phó của ba người quen với gia đình chúng tôi đã đăng trên đó. Hai chị em tôi tới nhà quàng thăm họ. Đám tang thì buồn những cái vui gặp lại người quen nhất là gặp ở tuổi đã lớn sau bao nhiêu năm xa cách thật hạnh phúc. Bây giờ ở tuổi chúng tôi hình như nghe tin buồn nhiều hơn tin vui. Lớp con cháu đã lớn và lập gia đình. Những người già còn lại từ từ ra đi. Cát bụi đã mệt nhoài (Trịnh Công Sơn).

Khi nào tên của người đã mất có thêm cụ ông hay cụ bà thì tôi cũng mừng một chút. Mừng vì cuộc đời người đã mất cũng phải là khá dài. Gia đình người mất chắc cũng không phải đau đớn lắm. Nhưng nếu tên không có thêm những chữ đó hoặc có chữ em thì lòng tôi chùng lại. Người mất ra đi ở cái tuổi còn sớm. Gia đình chắc hẳn là phải xót xa. Có gia đình con cháu đầy đàn nhưng cũng có gia đình neo đơn, con cháu ít. Tôi ước gì có thể gửi những gia đình neo đơn đó cái siết tay để nói lên lời chia xẻ thầm lặng của mình.

Mỗi một trang cáo phó đều cho tôi một câu chuyện. Tôi hay chú ý nhiều đến những người quê ở miền bắc như Phú Thọ, Sơn Tây, hay Thái Bình. Đó là những cái địa danh mà tôi biết được từ những cuốn sách đọc trên Tự Lực Văn Đoàn những năm Trung Học. Những người này đã phải hai lần ty nạn bỏ quê mà đi. Có người mất đã từng là trong binh chủng Việt Nam Cộng Hoà. Người lính năm nào bây giờ đã ra đi rồi. Anh đã có những năm tháng bính lửa cùng với đồng đội mình. Anh cũng có những khắc khoải khi xa gia đình vợ con và những cay đắng ngục tù sau năm bảy lăm. Cuộc đời khép lại. Những lớp con cháu lớn lên và cuộc hành trình lại bắt đầu.

Đôi khi đọc trang cáo phó nhưng nó không nằm ở trang cáo phó mà nó thuộc loại tưởng nhớ hay hồi tưởng. Như vừa mới đây tôi có đọc những bài tưởng nhớ đến Trần Phong Giao hay Duyên Anh, Dương Nghiễm Mậu và Võ Hồng. Đọc và cảm động lắm bởi vì bài viết không phải chỉ cho người mất mà còn có tác giả và những nhân vật nhà văn nhà thơ hay nhà báo được nhắc đến nửa. Trong đó là những câu chuyện thân tình riêng tư, rất riêng tư,  mà chỉ qua những bài viết như thế này người đọc mới biết được thêm. Tôi trân trong những câu chuyện như vầy lắm. Một đôi khi tôi có gửi comment cảm ơn. Tôi nhìn thấy những dấu giày của họ bước đi. Và tôi cũng nhìn thấy ngay cả dấu giày của tôi nữa. Phải rồi, tôi có đi qua cái quãng thời gian đó. Bây giờ quay quắt nhìn lại đã mấy mươi năm. Có phải nhà báoBùi Bảo Trúc  đã nói chuyện mình bây giờ sao lại giống chuyện của người ly hương xưa?

Hình như ai cũng có một cõi trở về giống nhau. Có lẽ trang cáo phó là nơi để vinh danh cuộc đời người đã mất.

Posted in Tuyet Van | Leave a comment

Đàn Ông Đi Chợ

Hôm qua thứ Sáu tôi đi chợ sớm. Mới tám giờ rưỡi đã ra khỏi nhà. Trời nóng quá và tôi cũng không muốn đứng chờ chực mua cá nên đi sớm hơn một chút. Quả thật, quày cá vắng vẻ chỉ có sáu người khách, không cần phải lấy số thứ tự. Trong sáu người thì đã có bốn ông. Cũng hỏi lạ đó chớ. Quày cá lại có nhiều ông hơn là bà.

Thực ra cũng từ hơn mười năm nay đàn ông đi chợ hơn những thập niên trước nhiều lắm. Nhớ cái thuở ba tôi đi chợ với má tôi thì cũng chỉ để mua báo hay giúp bà xách những bao đồ vô xe. Bây giờ trong chợ mình tôi thấy đàn ông đủ mọi lứa tuổi lựa mua thịt cá hay rau quả. Ở cái xứ bình đẳng thì quả thật cái gì cũng chia đôi để làm.

Nói vậy thôi, chứ tôi rất ngưỡng mộ hình ảnh của một người đàn ông đi chợ hay làm những công việc mà mình thường cho là việc của phụ nữ đàn bà. Chúng tôi thuộc thế hệ cũ nên việc bếp núc trong nhà đều một tay tôi lo gánh bên cạnh còn đi làm ngày tám tiếng như mọi người. Thời gian hai đứa con còn nhỏ thì khổ không kể hết được. Đùng một cái anh ấy bị thất nghiệp. Đó là khoảng thời kỳ kinh tế Mỹ đi xuống trầm trọng. Với tất cả thời giờ trong tay chồng tôi bắt đầu làm những công việc mà tôi thường làm vào cuối ngày hay cuối tuần.

Đâu chừng được hai tháng chồng tôi bắt đầu thú nhận rằng công việc đi chợ nấu ăn cho cả nhà không phải dễ lắm. Một lần tôi dặn anh đi chợ mua rau cúc để tôi nấu canh thịt bò. Rau cúc mà nấu canh với thịt bò xào xắt lát mỏng thì ngon lắm. Anh ra chợ nhìn thấy rau cúc nhưng không biết có nên mua hay không. Rau thì cúc đó những tên rau lại để là rau tần ô. Sau mấy phút suy nghĩ anh hỏi một bác lớn tuổi đang đứng bên cạnh. Bác ơi, phải rau này là rau cúc không, thấy giống quá những lại để tên là tần ô. Cô cháu gái vọt miệng nói liền. Rau cúc đó anh. Người miền trung kêu là cúc con người bắc kêu là tần ô. Một lần nữa tôi nhờ anh tới tiệm bán gà vịt mua cho một con gà và phải nhờ họ chặt khúc ra để tôi còn nấu cà ri. Chủ tiệm hôm đó không chặt  gà  được vì không đủ nhân viên làm. Khi thấy chồng tôi do dự, anh chủ tiệm nói với chồng tôi, chặt gà có khó gì đâu, cứ lấy dao “phang” xuống vài nhát là có gà nấu cà ri được liên. Chồng tôi đem con gà  về. Bếp của tôi không hề có còn dao lớn để “phang” gà vì tôi không bao giờ chặt gà cả. Anh cũng có gắng hì hục để chặt nhưng rồi cuối cùng bỏ cuộc và đem con gà nấu lấy nước dùng.

Bây giờ thì anh ấy đã thành thạo việc đi chợ nấu ăn nhẹ cho gia đình. Mà hình như cũng không chỉ riêng anh, đàn ông bây giờ cũng xông xáo, tháo vát trong lĩnh vực mà vốn dĩ trước kia chỉ cho là công việc của đàn bà. Trong những ngày lễ đa số đàn ông đi mua sò, tôm hay đùi gà để làm BBQ. Cứ coi những chương trình nấu ăn trên TV thì biết. Các bếp chính là những người đàn ông rất trẻ, có sự hiểu biết về những ẩm thức tự nhiên và đầy tính chất nghệ thuật. Có người chỉ trạc tuổi dưới ba mươi. Khi nhìn các em trong chiếc mũ và áo trắng đồng phục của người bếp trưởng, tay cầm đôi đũa xào qua lại trong chiếc chão lớn, tôi thấy các em “man” lắm. Ở bên Pháp, người bếp chính có một vị trí quan trọng và được mọi người ngưỡng mộ.

Một lần người tính tiền, cũng đã quen mặt với chúng tôi, chọc chồng tôi. Bộ bị chị bõ hay sao mà bây giờ cứ thấy đi chợ một mình quài dậy. Anh trả lời. Đâu có, nhờ đi chợ vậy nên vợ không bỏ đó chớ. Những người đang đứng xung quanh cũng cười. Một cô khách hàng trẻ quay lại nói với chồng cô. Anh cũng nên lo bắt chước đó. Anh chồng trẻ trả lời liền. Thì chẳng phải ngày nào anh cũng đem cơm chỉ về giùm em đó sao.

Cơm chỉ cơm nhà gì cũng được. Cái quan trọng là phải biết gánh vác chia xẻ việc nhà với nhau. Tôi vẫn thường dặn hai đứa con trai như thế. Chia xẻ, tinh thần đồng đội, team work lúc nào cũng làm công việc nhẹ nhàng hơn và tình cảm gắn bó hơn. Nhìn bốn người đàn ông đang đứng chờ mua cá tôi hình dung ra được một gia đình đầm ấm. Và tôi có một ước mong nhỏ cho hai đứa con trai. Không xe hơi nhà lầu nhưng chỉ muốn nhìn thấy chúng ra chợ để mua đồ cho gia đình của chúng.

Posted in Tuyet Van | Leave a comment

Những Người Già Ở Đâu

Khi Má tôi đau phải bắt buộc nằm trên giường luôn thì tôi mới nhận thấy ở cái tuổi chín mươi hai của bà là đã già lắm rồi. Bác sĩ nào cũng dè dặt phương pháp chữa trị cho Má. Có một bác sĩ cũng là trong vòng quen biết nói với tôi cứ để bác nghĩ ngơi thoải mái là tốt nhất, chẳng cần chữa trị nữa đâu. Vậy sao, má già vậy sao?

Đầu óc má tôi tuy có lãng quên nhưng vẫn còn tinh tế lắm. Bà vẫn còn nhắc nhở tụi tôi việc này việc nó, Có lẽ vì thế mà tôi chẳng nghĩ đến tuổi tác của bà. Nhưng từ ngày má tôi đau đến nay, tôi hay để ý thử có thấy người nào lớn tuổi như Má tôi không. Đi mua đồ trong Walmart hay Target tôi hay nhìn xung quanh. Và rõ ràng là tôi không thấy người già đâu cả. Những người đi shopping hay đi chợ ở trạc tuổi ba mươi, bốn mươi, năm mươi, hay sáu mươi như chúng tôi. Hình như tôi không nhìn thấy ai ở tuổi tám mươi nói chỉ đến chín mươi như Má.

Những người già ở đâu? Lòng tôi phân vân hỏi. Nếu Má tôi còn đây thì họ cũng còn đó chứ? Những người già có lẽ đang nằm trong những nursing homes bên trong căn phòng nhỏ. Ngày tháng mơ màng trôi qua khung cửa và chờ đợi người thân vào thăm. Có phải vậy không? Lòng tôi thắt lại khi nghĩ đến tám mươi, chín mười năm trong cuộc đời của họ. Như Má tôi đây, có lẽ bà không biết đến đệ nhất hay đệ nhị thế chiến, nhưng bà rất rõ về những cái tên trong lịch sử Việt Nam như thời kỳ Pháp thuộc, Việt minh, thời kỳ Nhật và hiệp định chia đôi đất nước. Bà đã lớn lên và buôn bán tảo tần ở một làng quê xa. Lớn lên lập gia đình rồi lại tiếp tục buôn bán tảo tần để nuôi các con ăn học. Bà đã từng quăng chị tôi vào bụi cây từ chiếc xe ngựa bà đi khi còn ngựa hoảng sợ nhảy tứ tung trước tiếng máy bay trực thăng. Bà cũng đã từng ẵm con trốn bom trong hầm đào ở dưới đất sau nhà. Cái chín mươi hai năm cuộc đời của bà và của bao nhiêu người già khác là cả một kinh nghiệm sống mà không phải ai cũng có.

Những người già ở đâu? Tôi đang đi kiếm họ bởi vì tôi không tìm thấy họ trong parking lot, ở các nhà hàng, hay ở những bữa tiệc tùng của gia đình. Tôi đi tìm kiếm họ bởi vì tôi không muốn mất họ. Một ngày kia rồi tôi cũng phải đưa Má tôi về Rose Hills nơi mà tôi đã đưa Ba tôi cách đây gần mười năm. Cái năm cậu Bốn tôi mất, mấy chị em bà chung nhau mua đất ở đó hết. Bà sẽ về đó, theo chị em của bà, bay lang thang trên những cụm mây trắng ngang qua thành phố Los Angeles. Chẳng phải cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết, Những Hẹn Hò Từ Nay Khép Lại, Thản Nhẹ Nhàng Như Mây, đó sao?

Tôi nghĩ đến những người già đã sống theo dòng lịch sử từ bao ngàn năm nay. Họ ở trên những triền núi cao xa hay những đồng bằng sông nước. Tôi chưa hề biết mặt nhưng sao thấy họ ở quanh đây thôi. Phải rồi, cái đám ruộng xanh kia cũng đã từng có bàn tay của họ vun xới. Con kênh đưa nước chảy cũng là từ cái sức lao động họ đã bỏ ra. Còn có biết bao nhiêu là điều mà ngày hôm nay tôi đang thừa hưởng được cũng là từ do những người già trước Má tôi đã góp phần nên. Vậy thì họ không đi đâu hết. Họ vẫn còn ở xung quanh ta mà đôi khi mình phải nhắm mắt lại mới nhìn thấy được.

Posted in Tuyet Van | Leave a comment

Về Bolsa

Bolsa

Khi đứa con trai lớn của tôi chuẩn bị lên lớp chín and đứa con trai thứ hai chuẩn bị vào lớp bảy chúng tôi quyết định bán nhà, rời Garden Grove để đến sống ở một thành phố khác. Nhà cửa lúc đó thấp lắm, tiện lời lại hạ, con cái cũng đang lúc chuyển trường chúng tôi cho đây là cơ hội tốt để dọn nhà.

Hai đứa con trai tôi không muốn đi. Má tôi cũng vậy. Má tôi nói đang ở chổ vui vẻ, gần người mình, gần chợ búa, đi xa chi vậy còn. Tôi nói, má thấy đó, lớp trẻ sau nầy dọn đi xa ở khu tốt hết. Cái gì rồi cũng quen. Chẳng phải hồi đó mình cũng bỏ nhà cửa bà con mà đi đó sao?

– Nhưng hai đứa nhỏ thấy buồn lắm, má tôi nói.

–  Rồi nó cũng quen thôi má à. Thay đổi là chuyện thương trong đời sống mà má. Đây rồi nầy mai nó còn đó học xa, đi làm xa. Chứ đâu có phải lúc nào cũng ở một chỗ đâu.

Má tôi làm thinh đồng ý nhưng tôi biết bà không vui. Hai đứa con tôi bắt tôi hứa phải đưa chúng về thăm Garden Grove một tuần một lần. Tôi hứa hết. Thật ra thì cũng chỉ có ba mươi phút lái xe thôi mà. Có xa xôi gì đâu.

Tuần nào tôi cũng chở má tôi và hai đứa nhỏ đi chợ Việt Nam mình. Nhiều lúc không mua gì, chỉ mua một ít rau nhưng cũng cứ đi. Má tôi vẫn còn đi bác sĩ của bà ở đây. Má vẫn có mua thuốc tây ở cái phac mà xi từ mấy mươi năm nay. Cứ mỗi lần tới cô chủ tiệm tặng cho má tôi một tờ báo.

Vài năm đi qua, hai đứa con trai tôi quen với trường và bạn mới. Chúng không còn nhắc đến thành phố Garden Grove nữa. Con nít sống cho hiện tại và tương lai. Người già thì khác. Họ còn khăn khít với cộng đồng quen thuộc của mình lắm. Mỗi buổi sáng cuối tuần má tôi mặc bộ quần áo đẹp, trang điểm lên một chút chờ tôi chở đi chợ hay đi bác sĩ hay nhà sĩ. Hai đứa con tôi không còn đi theo. Chúng có những sinh hoạt riêng rồi. Thường thì phòng mạch bác sĩ rất đông vào ngày thứ Bảy. Cứ mỗi lần chờ đợi lâu như vậy tôi thường cằn nhằn với má tôi. Má kỳ thiệt. Thiếu gì bác sĩ ở khu mình để đi mà mà đi bác sĩ xa quá vậy. Để nay mai con kiếm bác sĩ gần cho má. Cứ mỗi lần như vậy má tôi lại làm thinh.

Từ từ má tôi cũng không còn trông mong đến ngày thứ Bảy để đi về Bolsa nữa. Sức khỏe bà yếu hơn. Bà cảm thấy đường đi xa lắm. Ba mươi phút trên xa lộ như một chuyến đi dài. Thình lình má tôi bị bệnh phải nhập viện. Chúng tôi lựa bệnh viện, lựa bác sĩ cho má và sẵn làm bác sĩ gia đình luôn. Nhưng rồi tôi lại không hài lòng với văn phòng này và cách để nghị chữa trị bệnh cho má tôi. Tôi liền liên lạc với vị bác sĩ cũ vẫn thường lo sức khỏe cho bà. Đó là một bác sĩ trẻ, bình dân, nói chuyện rất gần gũi với bệnh nhân. Bác sĩ xưng ‘con’ với tôi. Tôi hoàn toàn đồng ý với đề nghị để chữa trị cho bà.

Trong khi ngồi chờ đến phiên mình vào gặp bác sĩ, chắc thấy tôi có dáng lo lắng quá, một vài bệnh nhân khác bắt chuyện hỏi thăm. Họ chia xẻ cái khó khăn khi có người bệnh và nhất là người già bị bệnh trong nhà. Có người khuyên tôi cách nấu thức ăn cho người già sao cho tốt. Cũng có người khuyên tôi phải bảo trọng sức khỏe của tôi. Tôi thật cảm động với những chia xẻ chân tình này. Đây là những điều mà má tôi thường dùng đến hai chữ ‘người mình’. Nó bình dị và gần gũi. Không ai ngại đưa ra đóng góp ý kiến. Không ai ngại phải bị thưa kiện chỉ vì ý kiến mình không đúng.

Một bác khuyên tôi lo kiếm người giúp cho việc săn sóc má tôi. Khi nghe tôi nói nhà ở xa, sợ không có ai chịu tới. Bác nói, cô cứ tới bảo Người Việt đăng quảng cáo di. Nhiều người hoàn cảnh đơn giản thì họ sẽ chịu ở lại thôi. Cô không đăng thì làm sao biết được. Lần đầu tiên tôi thèm được làm ‘người mình’ bởi vì hơn lúc nào hết tôi cần những lời khuyên bảo nhiệt tình như vầy.

Rồi văn phòng bác sĩ tôi lái xe đi tới báo Người Việt để đăng quảng cáo. Con đường Bolsa dài với hai dãy phố san sát nhau. Tôi nhìn những cửa tiệm. Có tiệm mở ra đã mấy mươi năm rồi, có tiệm thì mới đây thôi. Hồi trước tôi cứ thường bực mình vì parking trong những khu này nhỏ quá thì chiều nay tôi lại thấy cũng không sao. Những cửa tiệm không to lớn, có tính cách gia đình cá nhân, nhưng bên trong đó lại có những điều mà mình cần có.

Tôi ghé vào một tiệm Food To Go để mua một vài món đồ ăn. Mấy hôm nay bận bịu với Má tôi không nấu nướng gì được hết. Ở đây có món cá nục kho Má thích. Nhớ khi còn ở Garden Grove tôi vẫn thường ghé đây mua đồ ăn trên đường đi làm về. Cô bán hàng cười chào, lâu quá không thấy em tới.

Chiều nay tôi lái xe đi trên đường Bolsa mà cảm thấy như mình đang đi về nhà.

Posted in Tuyet Van | Leave a comment

Tôi Gu Gồ (Google) Với Tôi

Tôi ít khi lên mạng nên việc xử dụng gu gồ để kiếm tin tức cũng chỉ mới đây thôi. Đến khi công việc bắt buộc phải tìm hiểu nhiều hơn thì gần như gu gồ là nơi để tôi tới trước rồi mới đi hỏi đến người khác.

Gu gồ quả thật là một công cụ tìm kiếm rất hiệu quả. Cái gì cũng có trên đó cả mà có khi Gu Gồ còn đưa ra những tin tức trước để cho việc tìm kiếm của mình được hoàn hảo hớn. Một ví dụ đơn giản là khi tôi tìm Cá Kho Tộ thì Gù Go đưa ra nhiều Cá Kho Tộ khác nhau để người đọc lựa chọn. Bắt đầu từ đó, tôi thường khuyến khích chồng tôi xử dụng Gu Gồ.

Chị tôi thì khác. Chị thích hỏi tôi hơn làm nhiều lúc tôi cũng bực mình. Có ngay trên mạng do, dùng điện thoại thông minh để làm gì mà không Gu Gồ đi. Tôi thường nói với chị như vậy. Những lúc sau nầy thấy chị bớt hỏi hơn. Tôi mừng thầm, nghĩ là chị đã tập được theo lối sống mới.

Mới vừa rồi đây tôi tình cờ đọc một blog bên Việt Nam. Blog viết về nhà văn Võ Hồng. Tôi vốn dĩ mê đọc Võ Hồng trên những cuốn Văn ngày xưa nên viết trả lời cho blog này nói những cảm nghĩ của mình. Và người viết trả lời lại. Tôi có hơi ngạc nhiên và thấy vui vui vì không nghĩ là mình đã liên lạc với một người tuy cùng xứ sở nhưng trên một đất nước xa ghê lắm. Tôi ra đi đã trên ba mươi năm và chưa trở lại. Chỉ hai ba câu ngắn ngủi trên phần phê bình (comment) của người bên kia nó như một chiếc gạch nối làm tôi thấy Việt Nam gần hơn.

Tôi nhận ra sự quan trọng của việc trao đổi, liên lạc với nhau. Nhớ những lúc họp trong hãng, lúc nào người nhóm trưởng cũng nhấn mạnh về sự quan trọng của communications.Thì ra là vậy. Một cái nhìn thân thiện, một nụ cười dịu dàng, một hai câu trao đổi qua lại có thể làm tan đi tảng nước đá đông lạnh.

Vừa rồi lại đọc một bài viết của anh nói về cuộc đi chơi ở miền sông nước Nam Bộ. Bài viết gợi cho tôi nhớ sách của hai nhà văn Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam. Trong bài có nói tới đi vỏ lãi. Đây là lần đầu tiên tôi mới biết đến tên vỏ lãi. Cái tên lạ quá. Không biết nó là cái gì. Và tôi liền lên mạng hỏi anh sẵn luôn tiện khen bài anh viết. Chỉ ngày hôm sau, tôi được câu giải thích về vỏ lãi. Một cái giải thích dài, nhiều chi tiết, rất kỹ thuật, cứ như là từ sách giáo khoa ra. Vừa đọc vừa khen thầm người viết. Đọc đến câu cuối cùng thì thấy anh chú nguồn của cái giải thích này là từ ở mạng Wikipidia. Tôi bật ngửa, vội vàng lên Wikipidia thì quả thật là thấy vỏ lãi ở trên đó. Bật ngửa vì ngạc nhiên nhưng cùng một lúc cũng thầy mắc cỡ. Sao mình lại không nghĩ đến gu gồ trước rồi mới hỏi. Đâu có cần phải hỏi đâu. Không cần, nhưng nhận được câu trả lời thì lại thấy vui.

Và tôi chợt nhận thấy ra, sự quan trọng trong việc trao đổi giữa con người với nhau. Trên mạng chỉ cho ta kiến thức nhưng không có tiếng nói. Người với người trao đổi nhau có âm thanh, màu sắc, có sự riêng biệt. Anh nói tiếng Huế miền trung và tôi thì cũng miền trung nhưng không phải Huế. Cái mà tôi thường nghĩ Gu Gồ có thể trả lời cho tất cả những câu hỏi thì đây là điều Gu Gồ không thay thế được.

Mấy tháng nay ba chị em tôi thay phiên lo cho má tôi ở tuổi về già. Nhìn thấy bà, tôi nghĩ đến một ngày kia cái tuổi về già của mình. Chắc chắn là tôi sẽ không được có các con quây quần như chúng tôi đang làm với má tôi. Tôi sẽ ở trong một nursing home hay một khu cho người cao niên. Thời giờ nhiều lắm. Đâu có gì để hết thời giờ ngoài việc Gu Gồ với tôi. Nhớ đến bản nhạc của cố nhạc sĩ Tùng Giang, bài Tôi Với Trời Bơ Vơ. Bài hát có những câu:
Đêm có tiếng thở dài
Đêm có những ngậm ngùi
Khu phố yên nằm
Đôi bàn chân mỏi
Trên lối về mưa bay

Tôi xin phép được sửa lại câu chót cho thích hợp với hoàn cảnh tuổi già trong tương lai.

Đêm có tiếng thở dài
Đêm có những ngậm ngùi
Khu phố yên nằm
Đôi bàn chân mỏi
Tôi gu gồ với tôi

Hôm qua đi chợ gặp cô bạn thân, hỏi thăm qua lại xong tôi chia xẻ với cô cảm nghĩ của mình về tuổi già đơn độc. Cô la lên. Trời ơi, sao có nhiều thì giờ vậy Vân. Tới lúc đó hết gu gồ xong thì lên mạng đọc tin tức. Đọc xong lại phê bình cho vui. Cái gì không biết thì gu gồ cho biết. May mà có nó chứ không tụi mình biết hỏi ai lúc đó. Cô bạn tôi thật thông minh. Lúc nào cô cũng có những ý tưởng lành mạnh, trong sáng.

Tôi cảm thấy nhẹ nhõm lắm. Đời sống lúc nào cũng có hai mặt để mình lựa chọn.

Posted in Uncategorized | 2 Comments

Daisy Edgerton

Daisy Edgerton là một trong những người ở nhà thờ đã bảo trợ gia đình tôi. Bà thường đến thăm hỏi chúng tôi. Cái tình cảm nhân loại từ lúc đầu đã trở thành một tình bạn lâu dài. Daisy mới vừa qua đời. Mấy năm nay, Daisy bị bệnh, và một người bạn khác, Jennifer, đã giúp bà trong việc thư từ liên lạc. Đây là lá thư mùa Giáng Sinh năm ngoái. Lá thư cuối cùng của Daisy.  

Chúng tôi có gửi một lá thư viết riêng cho Daisy trong buổi lễ tưởng niệm đến bà.  

Đến một lúc nào đó ai cũng phải ra đi thôi.

My name is Van Au. I am the second daughter of the Au family. My family resettled in Indianapolis under the Downey Christian Church refuge sponsorship in December 17th, 1980.

Daisy Edgerton was one of the members who regularly visited our house on Ritter Avenue. I remembered at that time Mr. and Mrs. Hunter, Loisanne Buchannan, Marylyne, Marj, Itoko and also other members would often stop by to make sure we were doing good. Daisy sometimes took us on road trips. It was when I learned what the abbreviation of MPH stands for.

In 1986 we left Indiana and moved to California. Though the distance is long we continued to keep in touch.  We came back to see Daisy and other members from time to time. Our friendship lasted over 35 years.

When we talked about Daisy we talked about her strong voice, the twinkle in her eyes, her assurance and her sense of humor. Almost at the end of a story that we shared with her she always tried to bring up a positive note. She concluded with a lesson learned and a laugh. She was witty. One time, she explained to us that the reason she put a plastic yellow daisy on the top window of her blue car is that she would be able to find it easily from the parking lot. When Daisy had a brain aneurysm and moved to the facility, we visited her, and we placed a plastic yellow daisy at her room window.

We are very fortunate that we had Downey Christ Church sponsor us to come here to Indianapolis. We are also very fortunate to know Daisy and other members who had worked with us during the early years. Their friendship made our life richer. Life has many unexpected turns. We would never have thought of living in this beautiful country and had such a long lasting friendship such as ours with Daisy. And we will carry that fond memory with us to the end.

We are saying goodbye to our good friend Daisy Edgerton with a lot of love and appreciation.

Posted in Tuyet Van | Leave a comment

Tuổi Trẻ Của Tôi

Bài thơ này tôi đă gửi ở một blog khác cách đây một năm. Hôm nầy xin chia xẻ với bạn. Những điều viết trong bài thơ này là những kinh nghiệm của bản thân. Mà chắc cũng không phải của riêng tôi. Chắc cũng nhiều người đă từng trải qua.    

Trong những mất mát này tôi có chị Phương. Chị Phương là con gái út của cậu mợ Bốn tôi. Chị lớn hơn tôi một tuổi. Chị lập gia đình sớm và có một đứa con gái, cháu Bi, rất dễ thương. Năm 1988, gia đình chồng chị đi theo một trong những chuyến tàu sớm nhất lúc đó. Chuyến tàu đă không đến được bờ. Hoàn toàn bặt tin. Đă mấy mươi năm rồi nhưng lòng tôi lúc nào cũng bùi ngùi nhớ chị. Càng lớn lại càng nhớ nhiều hơn.

Chị Phương tôi có vóc dáng cao và đẹp. Khuôn mặt xinh tươi, dễ cười lắm. Tính tình chị hiền lành. Hình như người tuổi Mùi đều hiền lành cả.

Tôi lớn lên với chị vừa là bà con vừa là bạn bè. Tôi thường nghĩ đến chị, chồng chị anh Tám và cháu Bi. Nhiều khi lái xe trên đường về nhà cũng nghĩ tới rồi khóc một mình trong xe. Thương chị Phương vô cùng.

 

Tuổi trẻ của tôi là một trang giấy trắng
Cắp sách đến truờng cùng bè bạn vui chơi
Những bài học, bài thi nuôi mầm hy vọng
Phần thưởng cuối năm thêm tô thắm cuộc đời

Tuổi trẻ của tôi có mắt nhìn thầm hẹn
Có tay đưa tờ thư ngắn vụng về
Buổi tan trường trong những tà áo trắng
Có người chờ một vạt áo đi qua

Tuổi trẻ của tôi có những lời nghi vấn
Có phân vân không biết rẽ về đâu
Có lý tưởng nhưng cần người hướng dẫn
Có đêm về trằn trọc nỗi niềm sâu

Tuổi trẻ của tôi ước mơ cao như núi
Nuôi tuơng lai trong những giảng đường xưa
Tháng Tư về năm ấy rất nhiều mưa
Và trường cũ đã trở thành tên mới

Tuổi trẻ của tôi sống đời kinh tế mới
Nơi xa xăm gặp bạn cảnh đồng hành
Đêm sáng trăng kể chuyện chốn quê mình
Bài hát cũ hát cho lòng ấm lại

Tuổi trẻ của tôi có những đêm trời tối
Nấu với nhau nồi canh lá tập tang
Chỉ muối với rau và muỗng canh bột ngọt
Thấy thiên đường trong cái xót lầm than

Tuổi trẻ của tôi thôi không còn mơ mộng
Nếu có chăng là hai chữ vượt biên
Đêm hẹn ra ánh đèn nhỏ dẩn đường
Chiếc thuyền quá mong manh trên biển rộng

Tuổi trẻ của tôi là cầu Trời khấn Phật
Đêm qua nhanh cho nhìn thấy bến bờ kia
Người kiệt sức lấy đại dương làm đất
Nấm mộ sâu mong nước dịu linh hồn

Tuổi trẻ của tôi có bạn bè vượt biển
Nhưng không may đến được bến bờ kia
Có bà con nằm trong lòng biển lạnh
Chuyến tàu xưa không đến được bến bờ

Tuổi trẻ của tôi có nghe vài người chết
Đứa bệnh hiểm nghèo đứa chết ở đường xa
Nghe thương lắm người bạn trẻ quê nhà
Sống chưa trọn tuổi thanh xuân mong ước

Tuổi trẻ của tôi xin làm lại từ đầu
Xây lại giấc mơ xưa trong khuông viên cũ
Trường lớp mới tập tành câu Anh ngữ
Đánh vần hy vọng với niềm tin

Tuổi trẻ của tôi vẫn nhớ quê nhà
Nhớ thân tình làng xóm đã rời xa
Nhớ cái khổ những ngày năm tháng đó
Nhớ thương ai thèm lắm chút tự do

Tuổi trẻ của tôi bây giờ là dĩ vãng
Để đêm về nhìn lại quãng đường qua
Hình ảnh củ vẩn không hề phai nhạt
Đọc cổ thơ, giờ mới thấy thiết tha

Posted in Tuyet Van | Leave a comment